Tấm gương đạo hạnh muôn đời còn ghi - Truyện cổ Phật Giáo

Tấm gương đạo hạnh muôn đời còn ghi  

 

Khu rừng phía Nam kinh thành bỗng xáo động hẳn lên. Chim chóc gọi nhau lẩn trốn, thiêm thiếp lo sợ trong các cành cây kẽ lá. Từ hươu nai cho đến hổ báo đều loan truyền một tin hung dữ: Nhà vua đi săn.                                                            

            Ca Lợi Vương đi săn. Khác hẳn với các cuộc đi săn thường, lần này nhà vua tổ chức một cuộc săn quy mô trong suốt tuần lễ. Vì nhiều lẽ, và trong đó có một lẽ là để trừ khử uy tín của một đạo sĩ về tu hành trong khu rừng phía Nam này.

            Ðoàn người đi săn đã đến tại mé rừng. Thật như là một binh đoàn đi chiến trận. Có đủ cung tên gươm giáo, có ban tiếp vận lương thực, có hệ thống truyền tin liên lạc. Họ dựng lều trại và sửa soạn cho vua tá túc. Ca Lợi Vương cưỡi một con bạch mã, bận nhung phục gọn ghẽ, dẫn đầu toán lính săn. Bản chất mạo hiểm của ngài thường thấy bộc lộ trong những trường hợp như thế này. Ðoàn người tiến sâu vào rừng. Mỗi lần nhà vua bắn hạ được một con thú thì cả đoàn hoan hô vang dậy và sẽ có một bọn sắp sẵn để mang con vật xấu số đến trước mặt ngài.

 

- Muôn tâu Hoàng thượng! Con thú bị mũi tên thần bắn trúng vào chính giữa đầu.

- Muôn tâu Hoàng thượng! Hoàng thượng vừa hạ một con hươu đẹp đẽ nhất trong loài hươu.

- Muôn tâu Hoàng thượng!...

Và Hoàng thượng kiêu hãnh mỉm cười, truyền lịnh khao thưởng quân sĩ.

Ðến trưa, cuộc đi săn tạm nghỉ. Vua ngả người trên chiếc võng và an mình trong giấc điệp. Khi ngài thức dậy thì ngài ngạc nhiên thấy quân lính thiếu mặt rất nhiều. Bọn chúng đi đâu? Ngài đang băn khoăn thì bỗng đội liên lạc về phi báo là bọn quân lính đã tề tựu ở dưới một gốc cây Bồ Ðề để nghe một đạo sĩ thuyết pháp.

Hãy tưởng tượng Ca Lợi Vương giận dữ đến bực nào! Trước đây, dư luận đã xôn xao về tin này, người ta đã cho nhà vua hay là có một vài người trong hoàng tộc cũng lén lút đến nghe đạo sĩ thuyết pháp. Và chính bởi lẽ đó mà vua tổ chức cuộc đi săn này để tìm hiểu thực hư. Vậy mà giờ đây, tên đạo sĩ lại cả gan khuyến dụ cả quân lính nhà vua.

Lệnh tập họp cấp tốc được lan truyền. Số vắng mặt vẫn chưa thấy trở về. Vua đinh ninh rằng kẻ tu hành đã đánh bùa mê để cầm giữ một cách phi pháp lính của ngài. Ngài nhảy lên ngựa và đích thân đến nơi. Quan quân lục tục kéo đi theo ngài.

Gần đến nơi rồi. Một vài cận thần thân tín thúc ngựa lên trước. Họ quát tháo ầm ĩ. Quân lính đang vây quanh vị đạo sĩ sực nhớ lại nhiệm vụ của họ đối với Hoàng thượng, nên vội vàng nới rộng vòng và cúi đầu chịu hình phạt. Họ vừa nghe một bài dạy về hạnh từ bi, họ cảm thấy tội lỗi của họ trong cuộc đi săn đầy sát khí, và giờ đây họ ước muốn nhà vua đuổi cổ họ về, hơn là họ tiếp tục cuộc chém giết.

Nhà vua đã xuống ngựa. Ngài định tiến đến trước mặt nhà đạo sĩ, nhưng những cận thần đã vội ngăn cản :

- Muôn tâu Hoàng thượng, việc trục xuất tên Sa Môn này đâu phải nhọc đến thánh thể, xin cho phép để hạ thần ra tay.

Vừa tâu xong, họ xông đến. Họ dùng bao nhiêu lời thô bỉ để lăng mạ, để chửi rủa như trong giây phút họ sẽ phanh thây đạo sĩ thành trăm mảnh. Nhưng “chó vẫn sủa mà lạc đà vẫn đi qua”, đạo sĩ vẫn không nói lại một lời, không sắc giận, điềm nhiên như không.

Cảnh tượng ấy làm vua Ca Lợi Vương khá ngạc nhiên. Từ trước đến giờ, kẻ nào thấy vua cũng phải phủ phục dưới chân để tung hô hoàng đế vạn tuế, thế mà hôm nay lại có một kẻ tu hành trước mặt ngài vẫn cứ ngồi lỳ như chết. Ngài bước tới, truyền lịnh cho các cận thần lui ra và dõng dạc hỏi :

            - Này tên Sa môn ương ngạnh kia! Nhà ngươi ngồi đây để làm gì?

            Ðạo sĩ trả lời:

            - Kẻ này tu hạnh nhẫn nhục.

            - Hạnh nhẫn nhục là thế nào?

            Ðạo sĩ điềm tĩnh trình bày, giọng từ hòa như giọng đã thuyết pháp cho các người lính săn ban nãy :

- Tâu Hoàng thượng! Tu hạnh nhẫn nhục là giữ tâm khiêm nhường với tất cả mọi người, là trừ bỏ những hành vi tự đắc, kiêu mạn, là dùng lời nói êm dịu để khuyến hóa chúng sanh. Tâu Hoàng thượng...

            Nhà vua không nén được giận dữ nữa. Những lời đáp của đạo sĩ thì chân thật mà vua tưởng là cố ý xoi bói công kích sự ồ ạt nóng nẩy của mình. Hoàng thượng thét, cắt ngay lời đạo sĩ:

            - Im, im ngay.

            Vua quay lại, như muốn hạ lịnh cho vệ sĩ của ngài ra tay tức khắc. Bỗng vừa nẩy ra sáng kiến gì, vua lại hướng về phía đạo sĩ, rồi dịu giọng hỏi:

            - Nhưng mà, ta hỏi thêm nhà ngươi câu này. Tại sao khi nãy, cận thần của ta hết lời mắng chửi nhục mạ nhà ngươi mà nhà ngươi vẫn làm thinh?

            - Tâu Hoàng thượng! Kẻ này suy nghiệm rằng: Nếu như những lời chửi mắng của người khác là đúng thì phải sanh lòng hổ thẹn để mà hối cải. Còn nếu những lời chửi mắng nhầm lẫn thì xem như là những tiếng vang như gió thoảng ngoài tai mà thôi. Tuyệt nhiên không khi nào sanh tâm oán hận.

           Câu trả lời có một phản ứng mạnh. Quân lính thì thầm thán phục, các cận thần trố mắt kinh ngạc. Còn nhà vua, ngài cảm thấy tự ái của ngài xúc động. Ðể phục hồi uy tín của ngài, ngài rút mạnh thanh kiếm, và bảo:

- Ðây là những lời xảo trá và vô lễ!

Rồi ngài hạ tay cắt đứt đôi vành tai của đạo sĩ. Dòng máu đỏ rỉ rả thấm ướt đầm cả đôi má. Mọi người nín lặng. Tuy nhiên, đạo sĩ vẫn tĩnh tọa sắc mặt vẫn thản nhiên. Không chút gì tỏ vẻ đau đớn và oán thán.

           Nhà vua không ngờ có một sức chịu đựng lạ lùng. Hay đây là một tên phù thủy có nhiều pháp thuật? Dầu sao, vua không thể lùi bước được. Ngài vung kiếm chặt đứt thêm hai bàn tay đạo sĩ đang chấp trước ngực:

- Hãy xem tên thầy pháp này nhẫn nhục đến nước nào?

            Máu đào tuôn ra, thấm quanh chỗ ngồi của vị tu hành. Tuy thế đạo sĩ vẫn không thốt lên một tiếng kêu than. Vết thương như làm cho thần trí của người thêm sáng suốt và dõng mãnh. Gương mặt người trông từ bi lạ lùng.

Thật là một dòng nước mát rưới lên lửa hận thù của nhà vua hung bạo. Vua lặng thinh. Bây giờ ngài hiểu rằng kẻ đương ngồi trước mặt ngài không phải là một kẻ tầm thường. Ngài gượng cất tiếng giữa sự im lặng nặng nề của quân binh :

            - Hỡi đạo sĩ, tại sao ngươi bị hành hạ thân xác mà ngươi không chút gì sắc giận?

            Ðạo sĩ thong thả trả lời:

            - Tâu ngài, nếu như tôi có lỗi mà bị hành hạ thì tôi phải nhẫn thọ như uống được nước cam lồ và sinh lòng cung kính với người. Còn gặp trường hợp không phân biệt phải trái mà người xúc phạm đến tôi, thì tôi suy nghĩ rằng ngày nay tôi vô tội, nhưng biết đâu không phải do ác nghiệp ngày trước mà nay phải chịu. Vả lại, thân này là sự cấu hợp giả tạm thì cũng không nên lấy gì làm luyến tiếc.

            Ca Lợi Vương bấy giờ đã hối hận về tội ác của mình. Nhưng vì tập tánh chủ quan chỉ biết hạch lỗi kẻ khác lâu nay, vua gạn hỏi thêm một lần nữa :

            - Hay lắm! Nghĩ được như thế thì hết sức tốt đẹp. Nhưng làm thế nào cho ta tin rằng nhà ngươi thật tình nghĩ như thế. Làm thế nào cho ta tin rằng nhà ngươi không oán hận ta, không oán hận những cận thần của ta đã sỉ nhục nhà ngươi?

           Ðạo sĩ giơ hai cánh tay cụt, mắt sáng lên một cách lạ thường. Người phát thệ:

            - Tôi thề rằng tâm tôi không có một chút oán hận nào. Những người gây đau thương cho tôi chỉ vì bị mây mờ che lấp đáng thương mà thôi. Nếu như lời tôi không chân thành với tâm tôi thì những vết thương của tôi trở thành lở lói ghê gớm, bằng như trái lại, tâm tôi hoàn toàn không oán hận thì những vết thương của tôi sẽ lành lặn.

            Trời đất bỗng nhiên rung chuyển. Hương thơm tỏa ra ngào ngạt. Ca Lợi Vương và mọi người nín lặng chờ đợi. Họ trông thấy, ôi kinh ngạc biết bao! Họ trông thấy thân thể đạo sĩ lành lặn như xưa. Người ngồi tĩnh tọa dưới gốc cây Bồ Ðề, gương mặt từ bi, chói lọi hào quang.

            Cái kiêu hãnh trước đây tạm thời cung cấp cho nhà vua một sức mạnh ồ ạt, mong manh, bây giờ vỡ tan ra bọt nước. Và hạnh nhẫn nhục của đạo sĩ quả là một năng lực bền bỉ, trường cửu, và bất khả chiến thắng. Nhà vua qùy sụp xuống bên đạo sĩ và xin sám hối bao nhiêu tội lỗi. Vua còn nguyện ghi nhớ gương sáng nhẫn nhục này để thực hiện trong đời sống cá nhân, trong việc trị quốc của mình và đời đời kiếp kiếp xin tận tâm phụng sự Chánh Pháp.

            Ðạo sĩ khiêm tốn đỡ Ca Lợi Vương dậy và hiền dịu bảo:

            - Lời phát tâm tốt đẹp của ngươi tự nó đã xóa bỏ được lỗi lầm do chính ngươi gây ra. Và ta hứa với ngươi rằng, trong tương lai khi ta thành đạo, ta sẽ nhận ngươi làm đệ tử đầu tiên của ta.

*

Vị đạo sĩ đáng kính trên đây là tiền thân Ðức Phật Thích Ca và Ca Lợi Vương là tiền kiếp của ngài Kiều Trần Như.

            Và đúng như lời đã hứa, sau khi thành Phật, mở đầu cho lịch trình truyền đạo 49 năm trời, Ðức Thế Tôn đã thuyết pháp lần đầu tiên tại khu vườn Lộc Uyển cho năm vị đệ tử, trong đó có ông Kiều Trần Như.

Quảng Huệ

“Kẻ nào bị người khác làm nhục mà trong lòng không sinh mối ác cảm, kẻ ấy đã thắng một trận vẻ vang.”

 

Hương Trinh công chúa  

         

          Hoàng đế Ðại Lâm nhìn ra sân, màn sương còn dày đặc: Ủa, Võ hộ giá sao chưa thấy? Thì tiếng nhạc ngựa vừa đến. Một thanh niên bước xuống, chàng nai nịt gọn gàng trong bộ đồ săn thú trông oai phong nhưng không kém vẻ hào hoa.

            Là Tiên Ðình võ hộ giá của Hoàng đế Ðại Lâm, chàng đã đẹp trai lại có vẻ tiên phong đạo cốt. Tuy được vua trọng dụng, Tiên Ðình vẫn gây nhiều thiện cảm với quần chúng. Nhất là chàng đã khuyên vua bỏ nhiều tội ác. Vì thế Tiên Ðình rất được lòng dân, các bạn đồng liêu đều kính mến và thường gọi chơi là “bạch diện thư sinh”.

            Lịch sử của chàng như một giấc mơ. Người ta không biết Tiên Ðình con cái nhà ai? Chỉ nghe đồn miệng: cách 10 năm về trước, trong ban nhạc của nhà vua có một em bé mặt đẹp mà ca hay, nên một hôm sau buổi tấu nhạc Hoàng hậu cho tuyển em vào hầu cận ở hoàng cung. Tiên Ðình thông minh ý tứ nên hai vua đều thương cả.

            Giữa lúc đang được cưng sủng thì bỗng đâu tai bay họa gió đến với em. Một chuỗi ngọc châu quý của Hoàng hậu khi không, không cánh mà bay.

            Hôm ấy sau buổi dạ yến, Hoàng hậu vừa trở về phòng vừa cởi ra thì không biết vì sao xâu chuỗi mất biến. Trong phòng riêng của Hoàng hậu trừ hai vua thì chỉ có một Tiên Ðình ra vào. Vì vậy em bị bắt.

            Quan tư pháp bộ hình để riêng một phiên xử vụ Tiên Ðình. Khi chủ ngục dẫn em ra, thoạt nhìn, quan bộ Hình cũng phải yêu. Ngài ôn tồn: “Theo tuổi con thì chưa có luật (em mới 12 tuổi). Vậy con có lấy chơi bỏ đâu thì khai ra ta sẽ tâu vua tha tội cho. Nếu không khai chắc bị tra tấn con làm sao chịu được những hình phạt nặng nề, vậy con cứ khai đi ta sẽ châm chước cho.

            Em cúi đầu lặng, vẻ mặt bình tĩnh có dáng suy nghiệm nhiều, lúc lâu em thưa:

            - Thưa ngài, về vụ này một mình con không thể lấy lọt được nên trong đây có bốn người tòng phạm.

            Mọi người đều nín lặng, nhất là quan bộ Hình chăm chỉ nghe. Ông dỗ:

            - Ừ, ai con cứ khai ra ta sẽ xử phân minh.

            - Thưa ngài, nếu con đã khai thì ngài phải mời cả bốn người chứ đừng vị tình chi cả.

            - Ừ được rồi, con nói đi!

            Giao hẹn xong, em khai trong vụ này có Hoàng tử Mạnh Ðan, đại thần Trí Tuệ, phú ông Ðức Trí và cô ca kỹ Dạ Lý Hương.

            - Ủa sao bốn nhận vật em khai lại toàn những danh nhân trong nước cả. Thái tử Mạnh Ðan là điện hạ của đương kim Hoàng đế, đại thần Trí Tuệ là tể tướng đầu triều, phú ông Ðức Trí oai quyền sang trọng địch quốc, Dạ Lý Hương một danh ca tài sắc đương thời.

            Từ cái ngạc nhiên này đến cái ngạc nhiên khác, bốn nhân vật em khai sao không dính dáng gì đến nhau cả. Nhưng không lửa sao có khói? Không lẽ thằng bé này dám khai dựng đứng? Coi bộ nó nói chắc chắn lắm mà... năm sáu dấu hỏi trong lòng mọi người, nhất là rắc rối cho quan tư pháp. Vì thế vụ xử đành đình lại, và dĩ nhiên quan tư pháp tâu lên chúa thượng.

            Vua và Hoàng hậu rất lấy làm lạ. Cho hỏi Ðông cung cũng tức cười rồi vì tính hiếu kỳ ngài muốn đi cho biết.

            Ðại phàm việc gì vừa vừa thì người ta mới tức bực chớ những cái không ngờ mà xảy ra thì họ tức cười hơn. Nhất là trong vụ này lại có nàng Dạ Lý Hương. Cái nhan sắc khuynh thành của cô ca kỹ đã làm cho ba ngài quên đi cái bực mình. Thái tử, Ðại thần, Phú ông ngồi nhìn sững Dạ Lý Hương nét mặt buồn của người đẹp càng đẹp lạ, các ngài đồng nghĩ: Không biết thằng bé này vô tâm hay hữu ý, mà nó khai kèm Dạ Lý Hương vào đây thật diệu kế. Thật thế nếu không có cô Dạ Lý Hương ngồi đó thì em bé phải biết tay ba ngài. Nhưng nhờ vậy, Hoàng tử khoan hồng hỏi Tiên Ðình: con có dại lấy chơi thì trả lại ta sẽ tâu Hoàng hậu tha tội cho, chứ sao con dám khai cho ta hử? Trước mặt người đẹp dù sao Phú ông cũng không lẽ hung hăng, ông nhìn Tiên Ðình: Này em, em ngó lại qua đây có khi nào vào Hoàng cung đâu, huống chi chỗ phòng riêng của Hoàng hậu sao em lại khai rắc rối cho qua thế? -Dạ Lý Hương e lệ trước quý ngài nàng cũng dịu dàng: Này em coi có bao giờ chị gặp em đâu mà em lại đi khai lựng lựng cho chị tội quá!

            Trí Tuệ đại thần ngồi yên lặng, ông đang suy nghĩ: Lạ thật, không biết ai bày mà nó lại khai ta với ba người này thật vô lý quá, ông có ý tức nhưng khi nhìn thấy Tiên Ðình thì ý tức giận của ông tiêu ngay. Mặt nó thông minh thế kia, xinh quá ai mà không yêu! Nó khai rắc rối cho người ta rồi ngồi tự nhiên tự tại. Ừ, sao nó không khai cho bọn cung nữ lính tráng trong cung, lại lựa bốn người nhất hạng trong nước mà khai? Lạ thật! Vậy để ta bình tĩnh suy nghiệm kỹ may ra manh mối chăng?

            Từ khi nghe Thái tử bị liên quan vào việc này, tuy Hoàng hậu không nghi nhưng rất buồn, Ngài truyền nhiều lính Ngự lâm đi khắp nơi dọ hỏi. Mấy chục cung nhân giả dạng thường dân cũng  phân đi các ngả dò xét.

            Phú ông khi có lịnh quan mời, Phú bà rất lo sợ, một mặt sai gia nhân đi kiếm và bỏ tiền thuê người rải tán mọi ngả, đón đường để hỏi tìm.

            Dạ Lý Hương một danh ca được nhiều vương hầu bá tước để ý, nhưng nàng còn chưa ghé mắt xanh. Nay nghe Dạ Lý Hương bị bắt, các ngài bết bát cưỡi ngựa rong xe thân hành lùng khắp tất cả, từ thành nội thành ngoại, các thôn quê, những ngả đường, hiệu cầm đồ, nhà bán ngọc v...v... ai cũng tâm niệm cho mình tìm ra thì được người đẹp để ý.

            Suốt mấy hôm Trí Tuệ đại thần không nhắm mắt, ông suy nghiệm mãi, rồi đến một hôm cách ba ngày sau ông tin cho quan bộ Hình biết là: xử vụ này phải mời cả Chúa thượng, Hoàng hậu cùng tất cả bá quan chứng kiến.

            Hôm sau khi công chúng tề tựu đông đủ, Ðại thần đứng lên dõng dạc hỏi: Tâu Thánh thượng, trong phòng Hoàng hậu trừ Tiên Ðình ra, ngài có nuôi con vật nào không? Câu hỏi của Ðại thần như một tiếng trống dội mạnh, cả hai vua đều thốt:” À hay Lệ Nô? Có lẽ Lệ Nô”. Thế là một toán Ngự lâm vội vàng chạy vào hậu cung... thì trên một cây nhãn cành lá sum sê, đấy, gia đình của Lệ Nô, quả nhiên chuỗi ngọc treo tòn ten trên cành cao. Lệ Nô là một con khỉ cái rất tinh khôn cũng được hai vua thương lắm. Thái giám dâng chuỗi ngọc ra, đức vua đưa lên cao cho mọi người xem. Ai cũng khen tài của quan Ðại thần. Nhưng người ta không khỏi ngạc nhiên cái việc em bé khai, nhất là quan Ðại thần Trí Tuệ. Ông liền xoay lại hỏi em vì lý do chi em khai như vậy?

            Tiên Ðình đứng lên hùng dũng thưa :

            - “Thân con thơ dại tứ cố vô thân, may được vua thương cho vào hầu cận, rủi mất ngọc, Hoàng hậu nghi con cũng phải, vì cung ngài chỉ một mình con được ra vào. Ðã bị nghi, nếu con nói quanh quẩn chắc các ngài nổi xung thế nào cũng bị tra tấn, con bé bỏng làm sao chịu được cực hình? E phải chết oan! Con nghĩ: Nếu khai mạo cho Thái tử thì Hoàng hậu đủ uy thế, cung nga thể nữ nhiều, ngài sẽ cho đi tìm ngọc. Phú ông giàu sang địch quốc, nếu khai ông dính dáng vào vụ này thì Phú bà phải thuê người dò xét. Cô Dạ Lý Hương bị bắt thì các công tử nóng ruột thi nhau đi tìm giùm. Còn đại thần Trí Tuệ là quan công minh xưa nay, may nhờ trí sáng của ngài xét nghiệm có thể ra manh mối...

            Mọi người đều ngạc nhiên và khâm phục trí thông minh của em. Có người cảm động đến rơi nước mắt.

            Sau vụ tìm ra ngọc, hai vua càng thương quí, cho em học hành và dĩ nhiên Tiên Ðình học rất thông minh, đến năm 20 tuổi thì văn võ toàn tài, hiện nay tức Lã Tiên Ðình võ hộ giá của Hoàng đế Ðại Lâm.

            Cuộc lạp du (Ði săn bắn) hôm nay do Tiên Ðình tổ chức đơn sơ vì chàng đã tâu trước với  đức vua nhân việc săn bắn ở Mã Lạp Sơn sẽ bàn nhiều quốc sự.

            Săn bắn là thú thích của ông vua gian hùng hiếu sắc ấy. Nhưng đã mấy năm nay Tiên Ðình lên giúp vua chàng thường can vua, không để vua chơi những trò hung bạo.

Thế mà hôm nay chàng lại tổ chức đi săn khiến vua ta rất bằng lòng. Màn sương còn đọng, bạc cả ngàn cây. Hai con bạch mã song song trên đường thiên lý, hướng về Mã Lạp Sơn.

Vua mặc thường phục, theo sau vài tên Ngự Lâm không xuất sắc.

Tiên Ðình đăm chiêu nhìn khoảng đường khúc chiếc quanh co. Ðã đôi ba phen chàng trả lời bâng quơ không ăn khớp câu hỏi của Chúa thượng. Nhưng bạo chúa làm sao đọc được những ý niệm tế nhị trong đôi mắt của vị thiếu niên anh tuấn ấy??? Rồi không hiểu sao? Hay chàng đã thấy gì? Bỗng nhiên Tiên Ðình quất ngựa chạy, chạy mau, vua cũng chạy theo, ngựa chàng cứ phi lên, ngựa vua cũng thế, hai anh Ngự lâm bất giác cũng chạy theo nhưng không kịp nữa. Con đường đến núi quanh co nhiều ngả quá, họ trông theo dấu bụi để tìm nhưng vẫn chịu tìm không thấy. Hai anh ngơ ngác nhìn nhau, được cái họ tin ở tài quan Võ hộ giá chắc không để Chúa thượng phải lâm nguy.

Hai chúa tôi nãy giờ cứ loanh quanh mãi tìm đường, nhưng càng tìm hình như lại càng đi sâu vào núi. Có lẽ xa lắm rồi, nơi đây không có dấu chân người. Vua hơi chột dạ, nhưng được Tiên Ðình bình tĩnh nên ngài đỡ lo.

Không biết đã mấy giờ? Cơn nắng lên cao lắm, xuyên qua những cành cổ thụ. Trên nét mặt Tiên Ðình nổi lên nhiều đường gân, môi chàng mím lại... Vua mệt nhiều, mồ hôi ướt như tắm, ngựa cũng uể oải vì nắng gắt. Tiên Ðình tâu vua xin dừng ngựa nơi đây cho định thần và đỡ mệt. Vua nằm dài trên tảng đá dưới cây cao rồi ngủ mê như chết. Chàng vén tay áo lên trong đôi mắt cháy đỏ vì hận thù... Phải chăng chàng đã thấy gì trong cánh tay nõn nà như ngọc chuốt ấy? Hai cái sẹo to nổi lên hai chữ “phục thù”... Rồi cả một khung cảnh diễn lại tuy mơ hồ từ ngày chàng còn bé... nhưng càng theo tuổi lớn lên lại rõ thêm.

Ngày ấy, khi vua cha bị Hoàng đế Ðại Lâm chiếm ngôi, mẹ con chàng được một vị trung thần phò đi lánh nạn. Năm ấy Tiên Ðình mới lên sáu, chàng còn nhớ câu nói đầy uất hận của phụ vương: “Than ôi! Nếu Hương Trinh là trai thì thù này mong báo được, ta vô phước sinh Hương Trinh, thôi còn nói gì nữa!?”. Tuy mới 6 tuổi, Hương Trinh cũng biết tủi mình trước lời Phụ hoàng than. Không chịu nhục và bắt đầu nuôi chí nguyện, nàng khắc ngay hai chữ “phục thù” vào cánh tay để nhớ mãi.

Trong những ngày mẹ con lánh nạn, Hương Trinh nhớ rõ lắm. Nhớ những khi mẫu hậu cầm tay dặn con qua hơi buồn thảm: “Con ơi! Bốn năm trước khi Phụ hoàng bị cực hình, cha con có than: Không con trai để phục thù” nhưng giờ đây mẹ lại mừng vì con là gái. Mẹ là Phật tử, được tắm trong bể cả từ bi của Phật, vì thế không bao giờ muốn con nuôi chí ấy. Lâu nay mẹ chờ con đủ trí khôn mẹ mới nói: Con ạ! Lấy ân trả oán thì oán mới tiêu, lấy oán trả oán, oán kết thêm nhiều, vả lại mẹ khuyên con nên thấy cảnh gia đình mình tan nát, thì đừng gieo rắc sự tan nát cho kẻ khác, mẹ chỉ khuyên con như thế... rồi vì không chịu được sơn lam chướng khí, Hoàng hậu đã băng hà trong núi sâu giữa đêm mưa gió tơi bời. Cựu thần an táng Hoàng hậu xong, rồi không lâu, tuổi già cũng đưa con người trung thần ấy về nơi cõi chết. Những tấm màn đen dày đặc phủ lớp này lớp khác lên đời công chúa thơ ngây, mất lần hết những tình thương yêu. Một mình Hương Trinh sống bơ vơ giữa núi rừng hoang vu. Trong huyết quản của Công chúa trộn lẫn hai dòng: Mẹ là Phật tử phụng sự từ bi, cha thuộc Bà La Môn giáo, tính cương quyết và hiếu chiến. Cương quyết của Công chúa giống cha. Hương Trinh cải trang (giả trai) rồi lần về đồng nội. Nhờ mặt đẹp ca hay đã tiến cử em sung vào ban nhạc kịch đồng ấu của tân quân. Rồi mối thù cũng như tuổi tác mỗi ngày lớn lên. Hương Trinh chờ cơ hội. Và nàng đã sắp đặt cơ hội trong cuộc lạp du hôm nay.

14 năm nuôi chí nguyện, sống trong lo sợ hồi hộp, chịu nhiều oan trái... cơ hội chỉ đến trong giờ phút này. Hương Trinh run lên, khi hình tướng tiều tụy của Phụ Hoàng nhìn mẹ con lần cuối cùng. Nàng nóng bừng đôi má vì câu than của Tiên vương... Kẻ thù làm tan nát gia đình, tan nát hạnh phúc của nàng nằm sờ sờ trước mặt. Hương Trinh vận hết sức lực tuốt kiếm ra... Linh hồn Tiên Vương đang mỉm cười sung sướng vì thấy nàng không kém con trai.

Nhưng than ôi! Lưỡi kiếm sáng vừa ra khỏi vỏ thì bóng mẫu hậu hiền dịu hiện ra... “Mẹ là Phật tử được tắm trong bể cả từ bi mẹ không muốn con nuôi chí phục thù...” nghe cha thì bỏ mẹ, nghe mẹ thì phụ cha, hai chí hướng trái ngược của mẹ và cha dằng co trong lòng người con hiếu. Tay bủn rủn, nàng cảm thấy thanh kiếm nặng nề cầm không muốn nổi. Nhưng hình ảnh Tiên Vương lại hiện ra, hai cánh tay người cha yêu quí bị kẻ thù trói chặt, nàng còn bé, nắm áo mẹ đứng xa xa, Mẫu Hậu vì khóc to đã bị lính nạt nộ. Nét mặt Phụ Hoàng tiều tụy, tiếng than đầy uất hận : “Ta vô phước sinh Hương Trinh! Thì còn mong gì?”.

Mặt nàng nóng rần, khí hận xung lên, hiếu tâm kích phát dữ dội trong lòng. Hương Trinh rít lên: “Không thể dụ dự hèn yếu nữa, 14 năm trời ta chỉ trông có một chút này. Ðại Lâm, ngươi phải đền tội. Ngươi đã giết Phụ Hoàng ta, ta phải giết ngươi, ngươi đã làm cho gia đình ta tan nát ta phải làm gia đình ngươi tan nát lại. Nghe chưa Ðại Lâm!” Lưỡi kiếm Hương Trinh vừa chém mạnh xuống... thì ôi! Bàn tay hiền mẫu lại dịu dàng đưa ra:... “Con ạ, hãy lấy ân trả oán thì oán mới tiêu. Ðem oán trả oán thì oán kết thêm nhiều... Mẹ không muốn con gieo rắc nỗi đau khổ cho kẻ khác...”.

Hương Trinh tưởng tượng khi Ðại Lâm chết, một nhóm cựu thần sẽ thời cơ khởi nghĩa giam Hoàng Hậu, hại Ðông Cung v.v... gia đình tan nát... thêm vào đấy muôn dân đồ khổ điêu linh vì chiến tranh... ba, bốn năm nay từ ngày nàng giúp tay với kẻ thù để trị nước, mục đích nàng chỉ muốn trăm họ được an, nay nếu vì thù riêng, sẽ không khỏi xáo trộn cuộc sống thanh bình của quần chúng. Rồi vô số gia đình cũng tan nát theo... điều mà mẫu hậu không muốn, đã tha thiết khuyên nàng.

Hương Trinh nhẩm lại: “Ngươi đã giết cha ta, ta phải giết ngươi, ngươi đã làm gia đình ta tan nát, ta phải làm cho gia đình ngươi tan nát lại... Ồ sao mà hèn quá, ta nuôi chí nguyện 14 năm để làm cái việc hèn ấy ư”.

Giọt nước Từ bi của Phật đã làm dịu ngọn lửa hận thù, tâm trí nàng lần lần bình tĩnh. Hương Trinh nhìn lại Ðại Lâm, một ông già gần 60 tuổi, chòm râu đế vương điểm hoa râm tuy hãnh diện vênh lên, nhưng giấc ngủ vô minh đã làm con người thành thây chết. Nàng nghĩ: Nếu ta hại người thất thế thật không phải khí tượng anh hùng. Và lại ngai vàng đã dày vò tâm trí kẻ gian hùng không ít, mà thời gian cũng tàn phá sức lực ông đã nhiều rồi, đợi gì ta phải giúp thời gian kết liễu đời ông? Thôi ta tha cho.

Giấc ngủ nặng nề vì nặng nhọc nắng bức, Ðại Lâm nằm nhừ, mồ hôi nhễ nhại, ông ú ớ trong mơ... Hương Trinh tra kiếm vào vỏ. Thức vua dậy: Tâu Chúa Thượng đường về hạ thần đã tìm ra.

Vua bàng hoàng mở mắt: Ồ may quá! Quả nhân vừa thoát cơn ác mộng. Vua quẹt mồ hôi, tiếp: quả nhân mơ thấy con gái cựu Hoàng vác kiếm đuổi trẫm.

Lã Tiên Ðình buông mắt nhìn xa, trong nét thu ba của vị anh hùng căng quắt (con gái) đượm một vẻ buồn khó tả.

Chàng nhìn vua: Oai danh bệ hạ lừng lẫy bốn phương, một người con gái đuổi bệ hạ sợ chạy sao?

Vua vuốt râu chữa thẹn: Ừ mộng mị nhiều khi biến tướng (không thật, thấy lớn hoá nhỏ, nhỏ hóa lớn, v.v...).

Lã Tiên Ðình nghiêm nét mặt: Nhưng giá như thật, Công Chúa tính chuyện phục thù thì Chúa Thượng nghĩ sao?

Linh tính đế vương cũng có một phần nào trong người con gái ấy. Ðại Lâm ngờ vực nhìn Lã Tiên Ðình, thấy vua thất sắc, chàng thương hại, rồi như một nhà hùng biện, Tiên Ðình đứng lên kể hết sự tình...

Vua hoảng hốt kinh ngạc và cảm động trước cử chỉ cao thượng của Hương Trinh và đức độ từ bi của cựu Hoàng hậu... thần lương tâm đã trở về với con người tham vọng. Ðại Lâm như một tội nhân, ông quỳ xuống: Quả nhân còn biết nói sao cho hết sự ăn năn của tội ác, thôi giờ đây trẫm xin giao lại đất nước để công chúa...

Tiên Ðình vội đỡ vua dậy: Bệ hạ yên tâm, tôi sẽ đưa đường ngài về để phục vụ muôn dân, còn đất nước là của chung. Ngài làm cũng như tôi. Nhưng tôi chỉ khuyên Ngài: muốn củng cố giang sơn phải triệt để thực hành phước thiện. Thưa Ngài: lấy nhân ái để giữ gìn đất nước là khí tượng của Thánh quân, lấy bạo tàn duy trì ngôi báu là hành động của bạo chúa.

Ðại Lâm cúi đầu ngượng ngạo ông thở dài, Tiên Ðình tiếp: Bệ hạ đừng ngại, trong Khế Kinh dạy: có hai hạng người được Như Lai tán thán: 1- Là người biết sợ tội phước tin nhân quả nên không bao giờ dám gây tội ác. 2- Là người chót làm tội ác, rồi biết sợ nhân quả mà ăn năn, nguyện chừa bỏ mà lấy công chuộc tội, thi ân cứu khổ cho mọi người v.v... cả hai đều được gọi là “đại trượng phu”. Hối hận, hổ thẹn, cảm động, kính phục... xáo trộn trong lòng. Ðại Lâm bơ phờ ngẩng nhìn Lã Tiên Ðình với tấm lòng tri ân.

Trên đường về, lại song song hai ngựa, nhưng chúa tôi hai dòng tư tưởng khác nhau.

Buổi thiết triều hôm nay sao mà buồn bã thế? Quân vương bâng khuâng như mất đi một vật gì quý giá. Mọi người cũng đều mặc cảm như thiếu một cái gì quen biết lâu nay.

Nhưng khi câu chuyện Lã Tiên Ðình là công chúa Hương Trinh đã công khai khi Hoàng đế Ðại Lâm kể lại, thì bá quan đều chưng hửng cũng như sự kinh ngạc và cảm động kính phục chí khí đức độ của vị nữ anh hùng.

Ðại Lâm tiếp: Thật thế, chỉ có lấy ân mà trả oán thì oán mới tiêu, lấy oán trả oán thì oán kết thêm nhiều. Nếu công chúa chiêu binh đem về phục thù thì trẫm không bao giờ chịu thua. Nhưng cựu Hoàng hậu đã dặn con: “Lấy nước từ bi dội lên lửa hận” thì quả nhân há không bằng một phu nhơn sao? Vậy trẫm cũng nhờ giọt nước từ bi rửa sạch lòng tham vọng... Thôi giang sơn trả về cho công chúa. Phiền các khanh ra dinh quan võ hộ giá thỉnh người vào đây.

Bá quan nôn nả ra đi. Nhưng đến nơi thì cửa văn phòng đóng chặt thanh bảo kiếm Tiên Ðình thường mang, đã treo sẵn trước cửa, là câu trả lời dứt khoát việc không có mặt của nàng.

Phải chăng Hương Trinh biết trước nên nàng đã yên lặng giã từ ngai vàng để đi tìm một cái gì cao đẹp hơn?

Thích Nữ Thể Quán

“Lấy oán thù đáp oán thù,

Oán thù không dứt, niềm từ lại tiêu.

Lấy tình yêu, gọi tình yêu,

Sóng lên một gợn, thủy triều liền dâng.”

 

Tôn giả Bạt Ðà Lợi  

 

Không phải lúc nào thuyết pháp Ðức Phật cũng được mọi người hoan hỷ tín thọ phụng hành. Ðôi khi ngài phải đương đầu với những kích bác của ngoại đạo, và ngay trong chúng Tỳ kheo đệ tử đương thời của Ngài, cũng có nhiều vị không hoan hỷ, nhất là khi Ngài đưa ra những học thuyết hay giới luật họ khó thật hành, vì còn nhiều ngã ái. Nhưng chính trong những dịp này, chúng ta mới được thấy rõ đức bình tĩnh của đấng Thiên Nhân Sư. Ngài không bao giờ tỏ ra mất kiên nhẫn, đối với những kẻ cứng đầu.

Một thời khi đức Thế Tôn ở Kỳ Viên tịnh xá, Ngài gọi các Tỳ kheo bảo:

Này các Tỳ kheo, hãy ăn chỉ một bữa trong ngày, chỉ ngồi ăn một lần rồi thôi. Nhờ ta chỉ ăn một bữa trong ngày, ngồi ăn một lần, ta cảm thấy ít bịnh ít não, nhẹ nhàng có sức và yên vui. Do vậy, này các Tỳ kheo, các ngươi chỉ nên ăn một lần, thì sẽ cảm thấy ít bịnh ít não, nhẹ nhàng có sức và an vui.

Khi nghe vậy Tôn giả Bạt Ðà Lợi bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn, con không thể chỉ ăn một bữa, ngồi ăn một lần, ăn như vậy con sẽ thấy nhiều phiền não, hối tiếc, ân hận, mất sức và buồn rầu.

- Vậy này Bạt Ðà Lợi, khi nào ai mời ăn ngươi hãy ăn tại chỗ một ít còn một ít đem về để ăn sau. Ngươi có thể ăn như vậy mà sống qua ngày được không?

- Bạch Thế Tôn, con cũng không thể làm được. Bạch Thế Tôn, ăn như thế con cũng cảm thấy nuối tiếc, ân hận.

Trong mùa an cư ấy, Tôn giả Bạt Ðà Lợi luôn luôn lánh mặt Phật, vì đã không chấp hành học giới Ðức Ðạo Sư chế định cho chúng Tỳ kheo. Khi giải hạ, Tôn giả đi đến chúng Tỳ kheo để thăm viếng. Những vị này đang ngồi may một tấm y Tăng Già Lê cho Ðức Thế Tôn. Khi thấy Tôn giả Bạt Ðà Lợi, chúng Tỳ kheo nói:

- Tấm y này đang làm cho Ðức Thế Tôn, sau khi làm y xong, Thế Tôn sẽ du hành. Hiền giả hãy suy nghĩ lại về trường hợp vi phạm học giới của hiền giả để đến sám hối với Ðức Ðạo Sư, chớ để về sau lại càng khó khăn cho hiền giả.

- Thưa vâng, chư hiền.

Tôn giả Bạt Ðà Lợi vâng lời chúng Tỳ kheo đi đến Ðức Ðạo Sư, đảnh lễ và bạch rằng:

- Bạch Thế Tôn, một lỗi lầm đã chiếm đoạt con, con thật ngu ngốc, thật si mê, thật bất thiện. Trong khi chúng Tỳ kheo tuân hành học giới đã được Thế Tôn chế định, thì con lại tuyên bố mình bất lực. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn nhận cho sự sám hối của con, để có thể ngăn chừa trong tương lai.

- Này Bạt Ðà Lợi, đúng như vậy, một lỗi lầm đã chiếm đoạt ngươi, ông thật ngu ngốc si mê, bất thiện khi tuyên bố sự bất lực của ông đối với học giới đã chế. Này Bạt Ðà Lợi, trong thời gian ấy, ông đã không ý thức được rằng, bậc Ðạo sư đã biết ta là bậc Tỳ kheo không thực hành học giới trọn vẹn. Ông không ý thức rằng một số đông Tỳ kheo đến an cư tại Xá Vệ, sẽ biết mình là một Tỳ kheo không thực hành trọn vẹn học giới. Ông không ý thức rằng, một số đông Tỳ kheo ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ sẽ biết đến một thượng tọa Tỳ kheo là Bạt Ðà Lợi, là đệ tử của Sa môn Gotama, không thực hành trọn vẹn học giới.

- Bạch Thế Tôn, thật sự một lỗi lầm đã chiếm đoạt con. Mong Thế Tôn nhận cho sự sám hối của con, để có thể ngăn chừa trong tương lai..

- Này Bạt Ðà Lợi, khi một vị Tỳ kheo đã chứng câu phần giải thoát hay Tuệ giải thoát, hay Thân chứng, hay Kiến đạo, hay Tín thắng giải, hay Tùy pháp hành, hay Tùy tín hành, khi một đã chứng một trong bảy địa vị ấy, được ta bảo rằng, hãy lấy thân mình làm cầu trải cho ta đi qua đám bùn, vị ấy có vâng lời hay tránh né, bảo “Không”.

- Bạch Thế Tôn, vị ấy vâng lời.

- Này Bạt Ðà Lợi, vậy ông là gì trong thời gian ấy mà cãi lời ta? Ông đã chứng Câu phần giải thoát hay Tuệ giải thoát, hay Thân chứng, hay Kiến đạo, hay Tín thắng giải, Tùy pháp hành, Tùy tín hành.

- Bạch Thế Tôn, không.

- Vậy có phải ông là kẻ rỗng tuếch, mà lại ương ngạnh không?

- Thưa vâng, bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn nhận cho sự sám hối của con, để ngăn chừa về sau.

- Này Bạt Ðà Lợi, vì ông thấy rõ lỗi lầm, và như pháp phát lộ, chúng ta sẽ chấp nhận cho ông. Vì rằng, này Bạt Ðà Lợi, như vậy là sự lớn mạnh trong giới luật bậc thánh, nghĩa là bất cứ ai, sau khi thấy rõ lỗi lầm, phải như pháp phát lộ và ngăn chừa trong tương lai.

Này Bạt Ðà Lợi, khi một vị Tỳ kheo không thực hành trọn vẹn học giới trong giáo pháp bậc Ðạo sư, thì dù vị ấy sống trong rừng núi hoang vu với hy vọng chứng được pháp môn hơn người, vị ấy cũng không chứng được, vì bị Ðạo Sư quở trách, các vị đồng phạm hạnh có trí quở trách, bị chư thiên quở trách, và tự mình cũng quở trách mình.

Nhưng này Bạt Ðà Lợi, nếu vị Tỳ kheo nào thực hành trọn vẹn giới luật trong giới pháp của bậc Ðạo sư, thời vị ấy có thể chứng được các pháp thượng nhân, vì vị ấy không bị Ðạo sư quở trách, không bị chư thiên quở trách, và không bị chính mình quở trách. Vị ấy có thể ứng sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, cho đến tứ thiền, và với tâm định tĩnh, thuần tịnh vô nhiễm, vô phiền não, nhu nhuyễn, dễ sử dụng, vị ấy hướng tâm đến túc mạng minh, nhớ được nhiều đời trước của chúng sanh, biết người hạ liệt, kẻ cao sang đều do hạnh nghiệp của chúng. Vị ấy có thể hướng tâm đến lậu tận trí, trừ được dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu, nhờ đã thực hành trọn vẹn các học giới trong giới Pháp bậc Ðạo Sư.

- Bạch Thế Tôn, do nhân duyên gì, có người được chúng Tăng giải tội một cách mau chóng, có người lại không?

- Này Bạt Ðà Lợi, nếu một vị Tỳ kheo thường phạm giới tội, khi bị cử tội lại tỏ ra bất phục, không có thiện chí sửa đổi, vị ấy không được giải tội mau chóng.

X HOME - THINK DIFFERENTLY

NGÔI NHÀ ĐẶC BIỆT - SUY NGHĨ KHÁC BIỆT

KHUYỄN MÃI CỰC SỐC - CỰC SÂU 30%

 TỦ GIÀY THÔNG MINH X HOME TG6812

Thơ X HOME © X HOME Think differently - S HOME Think differently

Bình luận

ĐĂNG KÝ THIẾT KẾ

CHAT VỚI

X HOME - THINKDIFFERENTLY * NGÔI NHÀ ĐẶC BIỆT - SUY NGHĨ KHÁC BIỆT chuyên thiết kế, thi công xây dựng, nội thất, sơn bả thạch cao, mỹ thuật, sân vườn tiểu cảnh, cây cảnh, cây công trình. Hotline: 0965.163.169 - 0975.163.169 - 0949.163.169 - 0902.112.114 -